
Chấp Nhận Đau Khổ
Chúng ta bị cám dỗ để tin rằng chỉ cần là những Kito hữu tốt, chúng ta có thể làm cho đau khổ biến mất. Chúng ta tưởng tượng rằng lời hứa ban phúc lành của Thiên Chúa có nghĩa là Ngài sẽ không để chúng ta phải chịu mọi đau khổ. Nhưng nó không hoạt động theo cách đó. Chúa Giêsu đã làm cho đau khổ trở thành một phần bình thường của đời sống Kitô hữu. Ngài hứa với các môn đệ của Ngài nhiều phúc lành, nhưng cuối cùng của những điều tốt lành mà Ngài nói họ có thể mong đợi là một lời hứa đau khổ: “Chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, mẹ cha, con cái hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng, mà ngay bây giờ, ở đời này, lại không nhận được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con hay ruộng đất, gấp trăm, cùng với sự ngược đãi, và sự sống vĩnh cửu ở đời sau.” (Mc 10:29-30). Vì vậy, đau khổ không phải là một lựa chọn cho các Kitô hữu. Đó là một sự đảm bảo.
Về nguyên gốc, từ đau khổ có nghĩa là chịu đựng đau đớn hoặc khốn khổ, chịu đựng mất mát hoặc thiệt hại, bị tàn tật hoặc bệnh tật, và cuối cùng là chịu chết. Nó có đủ hình dạng. Những phiền toái hàng ngày làm chúng ta nản lòng. Thất bại lặp đi lặp lại làm chúng ta nản lòng. Hóa đơn chúng ta không thể thanh toán gây áp lực cho chúng ta. Một mối quan hệ tan rã phá hủy cuôc đời chúng ta. Trầm cảm đánh bại chúng ta. Bạo lực làm tổn thương chúng ta hoặc làm hại một người thân yêu. Bệnh tật tàn phá chúng ta hoặc qua một thành viên trong gia đình. Đau khổ ảnh hưởng đến tất cả mọi người.
Chúa Giêsu không chỉ hứa đau khổ; Người cũng coi việc vác thập giá cá nhân là yêu cầu hàng ngày đối với tất cả những người theo Người (xem Lc 9:23, NIV). Việc làm dấu thánh giá tuyên bố sự đồng ý của chúng ta với điều kiện làm môn đệ này. Khi chúng ta làm dấu, chúng ta đang vác thập giá của mình và chấp nhận bất cứ đau khổ nào đến với chúng ta. Với cử chỉ đó, chúng ta đang nói rằng chúng ta hoan nghênh sự đau khổ theo điều kiện của Chúa. Và chúng ta đang phục tùng ý chí của mình—tức là không muốn chịu đựng đau đớn—cho Thiên Chúa, giống như Chúa Giêsu phục tùng ý muốn của mình đối với Cha khi tự hiến mình trên thập giá. Vì vậy, việc tìm thập giá của Đức Kito trên cơ thể chúng ta có những kết quả nghiêm trọng.
An toàn dưới bóng đôi cánh của Ngài
Các Kito hữu cố gắng an ủi những người đau khổ bằng cách chia sẻ những lợi ích của sự đau khổ. Chúng ta nói: “Đau khổ tạo nên nghị lực”. “Tôi không muốn nghị lực,” người đau khổ nói. “Tôi muốn khuây khỏa.” Sau đó là những câu hỏi không thể tránh khỏi: “Tại sao Thiên Chúa lại để những điều tồi tệ xảy ra?” và “Thiên Chúa ở đâu khi con người đau khổ?”
Sự chăm sóc mà cha mẹ dành cho con cái gợi ý câu trả lời cho cả hai câu hỏi. Ví dụ, giả sử một bé gái bảy tuổi đang đi xe đạp lần đầu tiên. Cha của cô, đang chạy bên cạnh cô, thấy rằng cô sắp va phải một chỗ gồ ghề trên đường nhưng đã kiềm chế bản thân để vươn tay ra và giữ vững chiếc xe đạp. Người cha muốn cô con gái nhỏ của mình học cách lái xe một cách tự tin, vì vậy anh đã không ngăn cản cô bé bị ngã. Khi chiếc xe đạp nảy lên khỏi chỗ xóc, cô gái hoảng sợ, ngã xuống vỉa hè và bị trầy xước ở khuỷu tay và đầu gối. Người cha ôm cô vào lòng và an ủi cô. Sau đó, anh bế cô vào nhà, lau chùi và băng bó vết trầy xước cho cô, ôm cô vào lòng và kể cho cô nghe một câu chuyện yêu thích.
Thiên Chúa giống như người cha ấy. Ngài để chúng ta làm và điều khiển theo cách của mình, nhưng Ngài vẫn ở bên cạnh chúng ta. Ngài không ngăn cản những điều xấu xảy ra vì Ngài muốn chúng ta học cách tự tin đương đầu với khó khăn. Nhưng khi chúng ta đau khổ, Thiên Chúa nâng chúng ta lên và ở lại với chúng ta. Ngài chia sẻ nỗi đau của chúng ta, nâng đỡ chúng ta và an ủi chúng ta.
Đó là thông điệp của thập giá, và dấu hiệu biểu hiện này sẽ mở ra cho chúng ta khả năng nghe thấy thông điệp. Con Một của Thiên Chúa đã trở thành người trong Đấng Kitô. Trong bản chất con người của mình, chính Thiên Chúa đã bị từ chối, sỉ nhục, chế giễu, ruồng bỏ, đánh đòn, đánh đòn, bị đóng đinh và chết. Ngài chấp nhận đau khổ như một con người để có thể an ủi chúng ta trong đau khổ.
Khi chúng ta làm dấu thánh giá, chúng ta mời Thiên Chúa hiệp thông với đau khổ của chúng ta. Chúng ta sờ trán và di chuyển xuống ngực, nói với Chúa bằng cử chỉ này rằng chúng ta muốn Ngài cúi xuống với chúng ta. Sau đó, chúng ta bắt chéo vai trong một chuyển động để xin Ngài nâng đỡ—gánh vác chúng ta—trong sự đau khổ của chúng ta. Trong nhiều bài thánh vịnh, Đavít hát về việc trú ẩn dưới cánh của Thiên Chúa, điều mà các Giáo phụ hiểu là lời tiên tri về việc chúng ta sẽ tìm được sự an toàn dưới bóng cánh tay bị đóng đinh của Ngài (xin xem Tv 17:8; 36:7; 57:1; 61: 4; 63:7). Thiên Chúa dang rộng vòng tay cam kết rằng Ngài thấu hiểu nỗi đau khổ của chúng ta và chia sẻ với chúng ta.
Giống như các bài thánh vịnh báo trước ân điển của sự đóng đinh của Đức Kitô, sách Đệ Nhị Luật trong Cựu Ước đưa ra một điềm báo khác về thập giá như một nơi ẩn náu. Nó thuật lại bài diễn văn chia tay của ông Môise, trong đó dường như ông mô tả hình bóng của cây thánh giá ở phía xa. Ông đảm bảo với dân Israen rằng cánh tay của Thiên Chúa sẽ nâng đỡ họ vượt qua mọi khó khăn: “Thiên Chúa của thời thái cổ là một nơi ẩn náu; dưới đất này, cánh tay Người đã hành động từ xưa” (Đnl 33:27, RSV).
Ngày nay chúng ta thấy rõ thập giá là dấu chỉ lòng thương xót và an ủi của Thiên Chúa. Tôi tận dụng ân sủng và sự hỗ trợ Thiên Chúa ban cho tôi với cánh tay dang rộng của Người. Khi khó khăn ập đến, tôi thường làm làm dấu và nói: “Lạy Chúa, xin nâng đỡ con trong vòng tay vĩnh cửu của Ngài, xin đưa con vượt qua thử thách này và an ủi con.” Được củng cố bởi phản ứng của Ngài đối với cử chỉ và lời cầu nguyện đơn giản đó, tôi thấy có thể chịu đựng được những khó khăn.
Bert Ghezzi
MBM chuyển ngữ
